Minh Lư Đạo

Minh Lư Đạo hay Đạo Minh Lư, nói tắt là Minh Lư, là một Chi trong Ngũ Chi Minh Đạo.

Ngũ Chi Minh Đạo gồm: Minh Sư, Minh Đường, Minh Lư, Minh Thiện, Minh Tân.

TNHT: Bên Minh Lư đây là Séminaire, là chỗ các thầy tu, ngày sau độ về phần hồn đó con. (Séminaire: chủng viện)

Thuở mới khai Đạo Cao Đài, các Đấng chưa ban cho Tân Kinh, Đức Chí Tôn dạy Hội Thánh đến Minh Lư Đạo để thỉnh các bài kinh sau đây về làm Kinh của ĐĐTKPĐ:

I. Ngày chánh thức Khai Đạo:

Đạo Minh Lư khai ngày 27-11-Giáp Tư, nhằm ngày 23-12-1924. Theo âm lịch, Đạo Minh Lư khai, chẳng những trùng vào năm Tư, mà tháng, ngày, giờ cũng đều thuộc Tư cả.

  1. Năm Giáp Tư (1924).

  2. Tháng Bính Tư là tháng 11.

  3. Ngày Bính Tư là ngày tiết Đông chí.

  4. Giờ Mậu Tư là 11 giờ khuya, đầu ngày Bính Tư.

Trụ sở của Đạo Minh Lư đặt tại chùa Tam Tông Miếu, số 82 đường Cao Thắng, Sài G̣n.

II. Mục đích và Tôn chỉ:

Đây là đôi liễn để trước mặt tiền chùa Tam Tông Miếu nêu lên tôn chỉ của Đạo Minh Lư:

  Thống Tam giáo dĩ tôn sùng, tân tự trúc thành hưng Chánh pháp,
Hiệp vạn nhơn nhi giảng luận, cựu kinh đàm băi dục linh căn.
Nghĩa là: Gồm ba giáo để kỉnh thờ, chùa mới cất xong, toan chấn hưng chánh pháp (nhăn tàng),
Hiệp muôn người cùng giảng luận, kinh xưa giảng dứt, dốc hàm dưỡng linh căn (huyền quan).

Lại có bài thơ nêu mục đích của Đạo Minh Lư như sau:

Đạo là căn bổn khá tầm ṃ,
MINH mẫn lương tâm cần xét ḍ.
LƯ ấy tánh chơn vô nhi thị,
Giải phân họa phước chẳng so đo.

Bốn chữ đầu câu là: Đạo Minh Lư giải.

Đạo Minh Lư thờ Thượng Đế và Tam Giáo Đạo Chủ, tức là: Tây Phương Phật Tổ hay Phật Thích Ca Mâu Ni, Văn Tuyên Khổng Thánh hay Đức Khổng Phu Tử, Thái Thượng Lăo Quân hay Đức Lăo Tử; và nghiên cứu cả ba giáo lư xưa của Thích, Đạo, Nho, để làm nền tảng cho Đạo Minh Lư.

Tại Tam Tông Miếu Sài G̣n, cách thờ phượng hết sức trang nghiêm, chỉ thờ bài vị viết chữ Nho, chớ không thờ h́nh và tượng chi hết.

III. Phương pháp dùng Khai Đạo:

Đạo Minh Lư khai vào thời Pháp thuộc nên không có nói cách khai đạo bằng Huyền cơ, e có nhiều người tụ tập, làm náo động tới chánh phủ, phải mất sự thanh tịnh cần yếu. Kỳ thiệt, Minh Lư Đạo khai đều dùng cả hai phương pháp: Huyền cơ và Thần cơ.

Trước khi bề trên ban hiệu Đạo Minh Lư, nghĩa là khai đạo thật sự, th́ trong năm 1922 và 1923, đă có một số ít người mến đạo, nhờ sự un đúc của Thần Tiên bằng cách Huyền cơ.

Từ xưa, trong nước ta cũng có nhiều đàn Thần Tiên mà sự tín ngưỡng của thiên hạ hỡi c̣n mơ màng. Họ chỉ đến hầu đàn cầu thuốc, hay cầu hỏi việc tương lai mà thôi, chớ ít ai để tâm về mặt đạo đức. Nhờ có Huyền cơ mà số người nói trên mới bắt đầu tin chắc trong cơi thế giới vô h́nh, quả thật có Trời, Phật, Tiên, Thánh, không c̣n ngờ vực ǵ nữa.

Huyền cơ là ǵ? Huyền cơ khác với Thần cơ ra sao?

Tuy cũng là Thần Tiên giáng dạy mà phương pháp dùng chỉ truyền có khác.

Theo Thần cơ (Psychographie), Thần Tiên mượn tay của đồng tử người phàm, dùng điển lực mà viết ra. Có khi dùng cơ, có khi chấp bút. Đó là việc các Đạo hữu ở đây đều biết, nên khỏi phải nói thêm nữa cho dong dài.

C̣n theo Huyền cơ (Pneumatographie), Thần Tiên tự viết ra, không cần có tay người đồng tử xen vào, cũng không có cái cơ hay là cây bút ch́ làm món khí cụ để viết theo cách nói trên của Thần cơ. Không biết các vị thiêng liêng viết cách nào mà tự nhiên trên giấy trắng xếp lại, ta thấy có chữ hiện ra rơ ràng đủ ư nghĩa.

Tôi có thể nói: Đây là một sự huyền diệu phi thường, chúng tôi đặng trực tiếp với Thần linh bằng văn tự.

IV. Giải nghĩa hiệu ĐẠO MINH LƯ và hiệu chùa TAM TÔNG MIẾU:

1. Nghĩa chữ Minh Lư Đạo:

a) Nghĩa phổ thông:

Chữ MINH (động từ) nghĩa là làm sáng tỏ. Mà làm sáng tỏ cái chi? Là chữ LƯ nói sau đây ở trong ḿnh người cho mỗi ngày mỗi sáng. Làm sáng tỏ cho ḿnh được rồi, lại giúp cho mọi người, cho tất cả thiên hạ làm sáng tỏ như ḿnh th́ cũng gọi là Minh. Thế là chữ Minh có nghĩa phân biệt lành dữ, phải trái, để bỏ dữ theo lành, bỏ trái theo phải.

Chữ LƯ nghĩa là lẽ phải, tức là hai chữ Minh Đức (danh từ kép) là đức sáng suốt theo sách Đại Học, cũng gọi là Lư tánh, lương tâm, lương tri lương năng, theo các sách khác của Nho giáo.

Đó là đạo lư mà mọi người phải noi theo, mọi người phải giữ ǵn và cố gắng thực hiện đạo lư đó cho được rực rỡ trong ḷng ḿnh và hiển lộ ra bên ngoài bằng hành vi để làm khuôn thước cho đời sống của ḿnh và làm của chung cho tất cả quốc gia xă hội. Đó là một chơn lư bất biến, không thể nào làm người mà không có được.

Cho nên, ai cũng phải làm sáng tỏ cái Lư đó, khêu ngọn đèn thiêng liêng ấy cho tới mức thiệt sáng. Nhưng Lư nầy c̣n ở trong vật chất, là Lư tương đối, tuy thuộc Tiên Thiên mà c̣n mắc kẹt trong Hậu Thiên, nên khó đặng toàn hảo.

Chữ ĐẠO là đường lộ, con đường phải mà ai cũng nên đi trên đó. Nếu ai đi trên con đường rộng lớn của thiên hạ th́ b́nh yên. Bằng trái lại, bỏ con đường ấy th́ sa lạc vào hố sâu vực thẳm mà đắm ḿnh nơi nguy hiểm khổ đau. Đă sa lạc vào rừng sâu th́ quanh quẩn không lối về, mà c̣n khủng khiếp giữa đám rắn độc, cọp dữ, e chẳng toàn thân.

Đạo đây c̣n có nghĩa là dùng giác quan mà phân biệt, nhưng giác quan chỉ thấy bề ngoài mà thôi.

Đại ư phổ thông là như vậy.

Đây ta c̣n mổ xẻ thêm ra từ chi tiết để t́m lư do kết cấu cái danh từ trừu tượng đó. Nói về cơ thể, phương pháp khoa học gọi là giải phẩu, nói theo văn chương th́ gọi là chiết tự.

b) Nghĩa chiết tự:

- Giải chữ MINH: Minh là sáng, tại sao nó sáng?

Chiết tự: Chữ Minh gồm có chữ Nhựt và chữ Nguyệt nghĩa là một bên chữ Nhựt, một bên chữ Nguyệt hiệp lại mà thành sự sáng.

Dịch Hệ Từ Hạ truyện, chương 5 tiết 2 nói: Nhựt văng tắc nguyệt lai, nguyệt văng tắc nhựt lai. Nhựt nguyệt thôi nhi minh sanh diên. Nghĩa là: Mặt nhựt qua th́ mặt trăng lại, mặt trăng qua th́ mặt nhựt lại. Mặt nhựt mặt nguyệt xô đẩy nhau mà sanh ra ánh sáng. Ư nói: Nhựt là mặt trời chủ về ban ngày, là khí Dương. Nguyệt là mặt trăng chủ về ban đêm, là khí Âm. Âm Dương giao hoán cùng nhau mà phát lên một sức sáng điều ḥa. Tỉ như hai luồng điện gặp nhau, ở giữa có một dây tơ, làm cho sức nóng của dương ḥa với sức lạnh của Âm mà nảy ra ánh sáng trên đường dây tơ vậy.

- Giải chữ LƯ: Chữ Lư gồm có nhiều phần:

Phần thứ nhứt, bên tả có chữ Vương . Vương là chủ là quản trị, mà cũng có một cách đọc khác là Vượng. Vượng là thịnh đạt khắp nơi. Chữ Vương viết ba ngang một sổ. Ba ngang tượng trưng Tam tài. Tam tài là: Trời, Đất, Người, hay là Tinh thần, Sinh lực và Vật chất. Một vật, bất cứ là vật nào, cũng phải có ba phần đó. Nhưng mỗi vật tiến hóa lên đến con người th́ ba phần đó đặng hoàn toàn hơn nên gọi người là "tối linh ư vạn vật".

Xưa nay người ta thường nói: Duy Tâm, Duy Vật, mà ít nói về Duy Sinh (sinh khí), nên Tâm Vật hai đường đối nhau v́ thiếu phần trung gian để dung ḥa.

Vậy bổn phận làm người phải học Đạo để đi đúng đạo lư, là một tinh thần vừa đúng với Trời, với Đất, với nhơn quần xă hội, gọi là Tam tài hợp nhất, tức là chữ Vương nói trên vậy.

Phần thứ nh́, bên hữu là chữ Lư . Chữ Lư nầy ở trên hết ta viết chữ Điền , Điền là ruộng nước, kế viết chữ Thổ là đất, nằm trên khô mà thành chữ Lư. Lư là làng nước, là chỗ ở. Trong đó có chữ Điền là ruộng phước để cho người gieo (canh chưởng phước điền), có chữ Thổ là đất để người ta ở (an thổ đôn nhân) hầu tương lai gặt lấy hồng phước thế gian hay là hưởng thanh phước Niết Bàn.

Ư nói: Chữ Lư gồm cả Nhơn đạo và Thiên đạo, là chấp Thiên đạo mà hành Nhơn đạo, chớ không phải chỉ lo một mặt mà thôi.... ... ...

- Giải chữ Đạo: Chữ Đạo trước đây giải là con đường lộ, đến đây nó nhảy lên một từng cao hơn, có nghĩa là phương pháp. Như chữ Đạo trong sách Đại Học: Sanh tài hữu Đại Đạo, nghĩa là: làm ra tiền của có một phương pháp lớn.

Phương pháp đó là phương pháp nào? Là làm có tiền nhiều mà xài ra th́ ít, lâu ngày tụ thiểu thành đa, tự ḿnh trở nên giàu có.

Về phương pháp của Đạo cũng thế. Phải tự ḿnh biết tụ tinh thần, qui hiệp Âm Dương, đừng để nó rời ră lăng phí.

Vậy tôi xin chiết tự chữ ĐẠO mà giải sau đây:

Khi viết chữ Đạo, trước chấm bên trái gọi là nhứt Dương, rồi phết một phết bên phải gọi là nhứt Âm. Châu Dịch nói: Nhứt Âm nhứt Dương chi vị Đạo, nghĩa là một Âm một Dương gọi đó là Đạo. Kế đó liền viết chữ Nhứt. Chữ Nhứt nầy có nghĩa là hiệp nhứt, hiệp chung lại làm một, đừng cho nó rời ră. Nếu Âm Dương rời ră th́ không sao sanh hóa được. Âm Dương là cơ động tịnh, để phản về chơn tánh, chế luyện Kim đơn, là phương tu tánh mạng, để qui nhứt làm một cùng Trời. Nên chữ Nhứt đây là chủ tể của cơ vận hóa, làm then chốt cho cơ động tịnh của Âm Dương. Đó là sự mầu nhiệm khó nói ra.

Kế đó, viết chữ Tự . Tự nghĩa là tự nhiên mà có tánh độc lập, tự hữu nhi hằng hữu, không thể đổi thay thêm bớt, măi măi c̣n hoài. Chữ Tự là tự ḿnh đó. Lấy nghĩa nói như trên chớ không phải chữ Tự theo nghĩa ư thức hay là bản ngă, chỉ có tánh chia rẽ ích kỷ.

Ráp lại cả trên và dưới thành chữ Thủ . Thủ là đầu tiên, nghĩa như chữ Nguyên trong Kinh Châu Dịch, tức là cái phát sanh ra trước hết. Ta phải nương theo đó để trở về với chơn lư duy nhứt là Trời.

Kế viết chữ Sước thường gọi là Quai sước. Sước nghĩa là cơ lưu hành vận chuyển, châu tuần trong Càn khôn thế giới mà hóa dục, dịch sử quần linh. Đó là máy tuần hoàn trong thân thể mà cũng là cơ điều dương dưỡng khí, làm máy châu thiên huờn đơn.

Theo nghĩa chiết tự, ráp lại hết các thành phần th́ thành h́nh chữ Đạo. Chữ Đạo nầy là cơ tự động đầu tiên, là phương pháp phải tu mới mong đắc thành quả vị Phật.

c) Nghĩa huyền bí:

Trên đó là chiết tự, để cho mỗi người có thể lấy lư trí, lấy ư thức mà t́m hiểu, v́ lư trí, ư thức chỉ có tài phân tích và hiệp ráp mà thôi, chớ không thể xét biết được đến cái Thiên lư hồn nhiên, hoàn toàn có một, bao la muôn vật, trải khắp mười phương mà đây tôi muốn đem ra bày giải làm nghĩa thứ ba của chữ Minh Lư.

Chữ Minh đây không phải Minh động từ là làm cho sáng tỏ như nói trên, nó cũng chẳng phải là ánh sáng đèn hay ánh sáng mặt nhựt nguyệt, mà là thứ ánh sáng siêu nhiên hơn bá bội vạn bội. Nhưng v́ thế gian không có tiếng nào tả đúng nên bất đắc dĩ phải mượn chữ Nhựt và chữ Nguyệt mà bày giải đó thôi. Chữ Minh đây là chữ Minh Diệu hay Diệu Minh của nhà Phật.

Chữ Lư đây là chơn lư, là bản nguyên sơ thỉ của CKTG, không có h́nh tướng, màu sắc nên không thể nói vuông hay tṛn, đen hay trắng, v.v.... mà nó không có đức tánh nên không thể nói lành dữ, tốt xấu. Đó là Lư tuyệt đối. Cái Lư nầy, Đạo giáo gọi là Đạo, Phật giáo gọi là Pháp, Nho giáo gọi là Thiên. Đến khi nó vào trong Khí thể mới có đức tánh, v́ Khí mới có dài có vuông, có thanh có trược, có nặng có nhẹ, mới có tánh phân biệt khác nhau.

Như Phật giáo có Lục Tức, nghĩa là 6 chữ Tức, là 6 lớp công phu như sau:

Lư tức Phật,
Danh tự tức Phật,
Quán hạnh tức Phật,
Tương tợ tức Phật,
Phân chứng tức Phật,
Cứu cánh tức Phật.

Bước đầu là Lư tức Phật, là Lư tại triền chưa giải thoát khỏi Khí thể. Đến phần sau rốt là Cứu cánh tức Phật mới thật là Lư hoàn toàn giải thoát, là Lư cực kỳ sáng suốt, không phải mắt phàm mà thấy được, nên gọi là MINH LƯ.

Chữ ĐẠO ở đây, Đức Lăo Tử không biết nó tên ǵ nên Ngài cưỡng đặt là Đạo. Tuy vậy, Ngài cũng giải nghĩa cho biết: Khi Đạo vô danh th́ Đạo là Thiên Địa chi thỉ, khi Đạo hữu danh th́ Đạo là vạn vật chi mẫu. Nghĩa là: Ngài chỉ biết: Đạo sanh ra Trời Đất vạn vật mà thôi, ta hăy t́m mà hiểu lấy.

2. Nghĩa của chữ Tam Tông Miếu 三宗廟

Chữ Tam nghĩa là ba, chữ Tông nghĩa là Tông Tổ, là gốc chánh. Miếu là đền thờ. Chỗ hiệp ba tông đem về một mối gọi là qui nguyên. Nguyên là bổn thể có một mà hiện tượng là trạng thái phát sanh ra ngoài, tỉ như một gốc cây có nhiều chi nhiều nhánh, mà chi nhánh đó không thể rời khỏi gốc rễ của nó mà tự sống riêng biệt được.

Vậy Tam Tông là cái tên tổng quát gồm nhiều ư nghĩa, kể ra sau nầy:

Bây giờ tôi xin giải sơ mỗi ư nghĩa đó.

a) Tam giáo đồng nguyên:

Tam giáo là ba tôn giáo lớn ở Đông Nam Á, tức là: Đạo Phật, Đạo Tiên, Đạo Thánh.

Đạo Phật cũng gọi là Thích giáo, Đạo Tiên cũng gọi là Lăo giáo, Đạo Thánh cũng gọi là Khổng giáo.

Tại Trung Hoa cũng như ở VN ta, ba giáo nầy v́ gần gũi nhau, chung đụng nhau lâu ngày, nên hiện nay, về mặt giáo lư, có phần của giáo nầy xen lẫn giáo kia, phần của giáo kia ảnh hưởng đến giáo nọ, khó mà phân biệt mỗi giáo cho rẽ ṛi. Cho nên có người nói: Tam giáo đồng nguyên, như nước ba sông lớn đổ về biển cả, không thể biết nước nào thuộc sông nào.

Tuy mỗi giáo luận điệu có khác nhau mà ngoài danh từ ra, nếu chỉ xét về mặt nguyên lư th́ Tam giáo đồng một căn bổn duy nhứt và phổ biến. Thích giáo gọi ngôi duy nhứt là Pháp hay Phật, Lăo giáo gọi là Đạo hay Đức, Nho giáo gọi là Thiên hay Thượng Đế....

b) Tam Tài nhứt thể:

Phía trước có giải chữ Minh Lư Đạo theo cách chiết tự, bên tả là chữ Vương ba ngang một sổ, đó là tượng trưng Tam Tài nhứt thể. Đây xin giải rộng một chút nữa.

Hào thượng ..... 6      
    5 Thiên ......... Thiên
    4   .........  
    3 Nhơn ......... Nhơn
    2 Địa ......... Địa
Hào sơ ..... 1      

Theo Châu Dịch, mỗi quẻ đôi có 6 hào, tượng trưng:

V́ hào thượng và hào sơ không thái quá th́ bất cập, nên chẳng dùng, mà chỉ dùng có bốn hào giữa: 2, 3, 4, 5.

Tính theo hộ quái, quẻ dưới gồm ba hào: 2, 3, 4 th́ hào 2 thuộc Địa, hào 3, 4 thuộc Nhơn. C̣n quẻ trên gồm ba hào: 3, 4, 5 th́ hào 3, 4 thuộc Nhơn, hào 5 thuộc Thiên.

Gồm cả hai hộ quái th́ có bốn hào: một hào Địa, hai hào Nhơn, một hào Thiên.

Đó là tượng h́nh con người, trên đội Trời, dưới đạp đất mà biến thái ra thành chữ Nhân , tự dạng tuy có khác, mà nó vẫn giữ bốn nét như trước.

Đức Khổng Tử nói: Nhân giả nhân dă 仁者人也

Nghĩa là: đức Nhân là tánh hoàn toàn của con người là nhân bản vậy. Cho nên đạo Nho lấy Nhân làm trụ cốt, làm mục đích chánh thuộc về Tiên Thiên bao gồm cả Tam Tài. Xin chớ lầm tưởng theo nghĩa thông thường là nhân từ, thương xót mà thôi.

Hoặc cũng có thể cấu kết bốn nét thành chữ Vương trên Trời dưới đất, ở giữa có chữ thập là Thập tự nhai, tức là con người lư tưởng, v́ trong h́nh chữ nầy, con người vừa có nét dọc làm nội thánh, vừa có nét ngang làm ngoại vương, đề cao giá trị con người lên ngang hàng với Trời Đất, nên cả ba đồng đẳng với nhau.

Theo Nho giáo, sách Lễ Kư cũng có nói: Nhơn giả kỳ Thiên Địa chi đức, Âm Dương chi giao, quỉ thần chi hội, Ngũ hành chi tú khí. Nghĩa là: Con người có cái đức của Trời Đất, chỗ giao điểm của Âm Dương, nơi tụ hội của Quỉ Thần, cái tinh túy của Ngũ hành.

Cho nên, đức tánh cao siêu của con người mà đặng thành tựu là nhờ ở chữ Đức, chữ Giao, chữ Hội, chữ Tú Khí nói trên. Thử hỏi, bỏ mấy chữ đó ra, con người có thể nào nhập Thánh siêu phàm, thành quả vị Tiên Phật đặng?....

c) Tam ngũ hiệp nhứt hay Tam gia tương kiến:

Cuốn Ngộ Chơn Thiên của Đạo giáo giải thuyết nầy trong một bài thi bát cú sau đây: (xin lược bớt bài thi Hán văn .....)

Tam ngũ nhứt luôn ba chữ nầy,
Xưa nay hiểu được ít người thay!
Đông tam, Nam nhị, hiệp thành ngũ,
Bắc nhứt, Tây tư cộng cũng vây.
Mồ Kỷ một ngôi sanh số ngũ,
Ba nhà gặp gỡ kết Tiên thai.
Tiên thai là một gồm chơn khí,
Mười tháng thai thành ngự Thánh đài.

Đây là lấy số trong Hà Đồ mà luận. V́ Kim năng sanh Thủy, hai hành nầy đồng chung một cung, cho nên 4 và 1 hiệp lại thành số ngũ. Đây là nói T́nh thuộc Kim, Tinh thuộc Thủy, hiệp lại thành một số ngũ, tức là Tu thân hay là Luyện Tinh.

V́ Mộc năng sanh Hỏa, hai hành nầy đồng một cung, nên 3 và 2 hiệp lại sanh số ngũ, tức là Tu tâm hay Luyện Khí.

C̣n Mồ Kỷ ở trung ương, riêng một ḿnh cũng đủ một số ngũ nữa. Đây là nói về chơn ư, cũng gọi là Luyện Thần.

Cho nên Tánh Mạng khuê chỉ có câu:

Thân, Tâm, Ư, thị thùy phân tác Tam gia.
Tinh, Khí, Thần, do ngă hiệp thành nhứt cá.

Ba con số ngũ nói trên hiệp lại một, nên gọi là Tam ngũ hiệp nhứt, tức là Tam gia tương kiến. Nếu ba nhà gặp nhau hiệp thành Thái Cực th́ sẽ siêu phàm mà vào ngay cơi Thánh.

Tóm lại, Tam ngũ hiệp nhứt là phép trở về với Đạo, từ số 5 là ngũ hành trở lại số 3 là Tam gia, từ số 3 trở lại số 1 là Thái Cực. Phép nầy gọi là Phản bổn huờn nguyên.

V. Kết luận:

Về Thế Đạo, Minh Lư lấy con người làm đích chánh. Người là đại diện của Trời Đất, giữ mối tương quan, làm cho sáng tỏ và rộng bày Đại Đạo.

Nếu Trời Đất có mà không có con người th́ Trời Đất cũng không cần có để làm ǵ.

Con người có tài thành Thiên Địa chi Đạo, phụ tướng Thiên đạo cho nghi. Nhưng tại sao chúng ta gặp hôm nay một hoàn cảnh rất đen tối, thù ghét nhau, giết lẫn nhau. Tại sao?

Đó là con người bị ám ảnh bởi ḷng tham dục mà say đắm với hoàn cảnh, nên gây ra biết bao sự đổ nát hư hại, làm cho đất bằng sóng dậy chẳng vừa. Nên đặt trúng vấn đề là một việc, c̣n việc quan trọng hơn là phải có con người lành mạnh tượng trưng, đủ trí tuệ, đủ từ tâm, mới có thể đặt tay vào đời mà không làm cho đời hư hại.

Muốn có con người ấy, không phải học giỏi tài cao mà ra gánh đời độ chúng được. Muốn đ̣i hỏi cho đời đặng trở nên thanh b́nh thánh đức, phải có con người chơn tu, chứng đạo, nội thánh ngoại vương, tự giải thoát được thân, để giải phóng loài người ra ngoài đau khổ.

Về Thiên đạo, Minh Lư nh́n nhận mỗi người đều có tánh Minh Lư tối thiêng liêng, bất sanh bất diệt, ngang cùng Trời Đất, hoặc gọi là Minh Đức, Minh tánh, Minh giác, v.v... làm căn bản cho sự tu thân. Cho nên bề trên có dạy:

Minh Lư tánh, minh tâm kiến tánh,
Đạo Tam Tông, thọ lănh hóa hoằng.

Nhưng khó ở chỗ nh́n rơ cái tánh Minh Lư. Chết tại đó mà sống cũng tại đó, nên gọi chỗ đó là Sanh Tử quan đầu.

Thỉnh chư quí vị để ư, không nên minh bằng lư trí, nếu công phu sai một ly là cách xa ngàn dặm.

Hôm nay, Tệ tăng bày giải ít điều về sở kiến của Đạo Minh Lư, ước mong chư Đạo hữu bổ cứu thêm cho để trợ giúp bề trên hoằng hóa mối đạo Trời đương buổi Hạ Nguơn nầy, hầu đem lại phước lành cho đồng bào ta, cho cả thế giới nhơn loại.

(NGUYỄN MINH THIỆN)

 

Để hiểu thêm về Minh Lư Đạo, xin trích ra sau đây trong bài: Lược thuật về việc tiếp kinh của ông Âu Minh Chánh:

Tôi trước vẫn mộ xem kinh sách dạy việc tu hành, có thấy nhiều cuốn Thần Tiên giáng cơ đặt ra, sau lại thấy trong sách Pháp văn có nhiều vị cao kiến giải rành phép chấp bút th́ ḷng tôi càng thêm tin chắc. Tôi cũng nhờ dự đặng nhiều đàn thỉnh Tiên, thấy lắm điều hiển hích, nên mới hội anh em năm ba người mà tập pḥ cơ chấp bút. Tôi gắng chí tập gần trót năm mới là thành tựu. Từ đây mới có Thần Tiên giáng dạy, nào là cho thi tuyệt cú, nào là bài trường thiên, rất có khí tượng, rất có nghĩa lư sâu xa, song v́ Thần Tiên thường dùng chữ Nho, người ít học khó hiểu cho thấu đáo.

Bởi vậy nên anh em chúng tôi thường than rằng: Nghĩa lư chữ Nho rất cao sâu, nên lời Thần Tiên để lại trong kinh sách bấy lâu nay, người đời ít ai thông hiểu những lời mầu nhiệm. Chơ chi Ngài cho kinh bằng chữ quốc âm, dầu bực nào cũng dễ hiểu mà thi hành được.

Thiệt là: Nhơn hữu thiện nguyện, Thiên tất tùng chi. Trước hết, Đức Thái Thượng Lăo Quân giáng xuống cho một bài Tặng Thiên Đế và có dạy rằng: Chư nhu tụng kinh chữ Nho không thông nghĩa lư, nên Ta cho kinh nôm. Kinh nầy vắn tắt, cũng tiện cho chư nhu tụng đọc.... ... ...

Sau Đức Thái Thượng Lăo Quân dạy phải lập một cảnh chùa, và có cho hai đôi liễn sau đây:

1. MINH chánh giáo, Đạo truyền thiện hạnh,
LƯ trực đàm, đức hóa cường ngôn.
2. MINH khai tường Đại Đạo
LƯ hiểu đạt thâm uyên.
và dạy rằng: Nhứt niệm tu hành vạn sự khinh,
Tâm chuyên từ thiện chí năng MINH.
Thành tư tôn giáo cầu chơn LƯ,
Kỉnh tụng thường xuyên luyện tánh t́nh.

Ngài có dạy lấy hai chữ MINH LƯ mà làm đạo hiệu, nên từ đó về sau, cứ gọi là MINH LƯ ĐẠO.

Chúng tôi cũng lấy bốn chữ: "Nhứt Tâm Thành Kỉnh" mà làm Sắc lịnh, nên Ngài có cho thêm 2 câu liễn để hai bên:

KỈNH GIÁO NĂNG TU ĐỨC
THÀNH TÂM ĐẠO KHẢ HÀNH

Chúng tôi cúng Sám Hối tại Linh Sơn Tự hơn 18 tháng, bước qua đầu năm Đinh Măo (dl 2-2-1927) mới về chùa mới.

Bởi chùa chúng tôi thờ Tam Giáo Đạo Chủ, nên Đức Diêu Tŕ Kim Mẫu mới ban cho ba chữ hiệu chùa là: TAM TÔNG MIẾU.

Đức Chiến Đấu Thắng Phật cũng có cho một đôi liễn chùa như sau đây:

Tam giáo hiển linh ân quang phổ chiếu thông tứ hải,
Phiến tâm thanh tịnh Nho Thích Đạo tông vốn đồng nguyên.

Người mộ đạo càng ngày càng đông, nên chúng tôi có xin phép chánh phủ lập ra một cái Hội gọi là Hội Tam Tông Miếu, đặng tiện bề tụ tập mà cúng kiếng và giúp đỡ nhau để lo tu hành.... ... ...

Kinh là vật quí trọng, xin chớ khá dể duôi để nơi uế trược, và chỉ nên đọc cho nghe, hoặc là cho mượn coi, chớ khá trao luôn cho người không ham mộ, rồi bỏ rơi rớt mà mang tội với Thần Tiên.

Kinh Thần sách Thánh giải phân minh,
Có chí kỉnh thành đọc mới linh.
Chọn được người lành trao phép báu,
Uổng truyền kẻ vạy, chẳng ḷng ǵn.

Năm Đinh Măo, tháng 6 ngày 10 (dl 8-7-1927).
ÂU MINH CHÁNH đốn thủ.



Nguồn: www.caodaism.org